Đánh thức tiềm năng tri thức bằng nền giáo dục khai phóng

.

Đánh thức tiềm năng tri thức bằng nền giáo dục khai phóng

Lê Học Lãnh Vân

(TBKTSG) - Năm 1974, khi đất nước còn phân đôi, cuối năm lớp 12, đậu tú tài xong bạn bè miền Nam chúng tôi háo hức chuẩn bị du học để vài năm sau về xây dựng quê hương. 

Với một nền giáo dục có tính khai phóng, học sinh đua nhau đọc sách, phát triển kiến thức, suy luận... tạo nên nền tảng tri thức và đạo đức cá nhân vững chắc. Thầy cô đọc nhiều để có kiến thức tổng hợp vững chắc truyền thụ, gợi mở cho học sinh. Cả một xã hội giáo dục nở rộ tinh thần cộng tác phát triển tri thức! Ảnh: Nguyễn Nam

Lúc đó chúng tôi đã hiểu biết khá nhiều chuyện như:

1. Các nguyên tắc và cách ứng xử căn bản của một công dân nước Việt, ví dụ lễ phép, hòa nhã, cứu người gặp nạn, xếp hàng, không chen lấn, nhường chỗ cho người yếu đuối như cụ già, phụ nữ có thai...

2. Các giá trị như lòng trung thực, lòng nhân ái, lòng yêu tổ quốc, đồng bào, tính kỷ luật, thượng tôn pháp luật, tinh thần tự do, bình đẳng, tôn trọng con người, tinh thần cộng đồng... Chúng tôi được dạy rằng các giá trị đó là căn bản cho xã hội con người, chúng cao hơn quyền lợi của bất kỳ phe nhóm, đảng phái nào.

3. Các nguyên tắc và mô hình tổ chức công ty như công ty gia đình, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty đại chúng. Các nguyên tắc thuế và hải quan...

4. Các nguyên tắc và mô hình tổ chức chính trị - xã hội của các nước trên thế giới. Từ hệ thống chuyên chính như Liên Xô và các nước Đông Âu cho tới xã hội dân chủ kiểu phương Tây. Chúng tôi biết và hiểu nguyên nhân của các cách tổ chức cộng hòa hay đại nghị, tổng thống chế hay quân chủ lập hiến, hiểu biết về các định chế quốc tế như Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới...

Với những kiến thức đó, chúng tôi hòa nhập một cách tự nhiên vào môi trường sống của các quốc gia giàu mạnh và văn minh của thế giới thời đó như Mỹ, Pháp, Đức... - là những nơi chúng tôi đến học tập và làm việc.  Thậm chí, cộng hưởng với những giá trị sống truyền thống của dân tộc, chúng tôi được quý mến bởi người dân các nước sở tại.

Ngược dòng thời gian, nhớ lại năm 1967 khi chiến tranh đang khốc liệt, chúng tôi thi tuyển vào trường trung học Petrus Ký. Đề môn Việt Văn đại ý như sau: “Hai ngoại ngữ chính của nước ta hiện nay là tiếng Anh và tiếng Pháp. Thí sinh chọn ngoại ngữ nào và cắt nghĩa tại sao?”. Lứa thí sinh tụi tui lúc đó mười một tuổi!

Yêu cầu chấm bài không hề bắt buộc chọn tiếng Anh hay tiếng Pháp. Chỉ xem học sinh có kiến thức căn bản và có lập luận thuyết phục hay không. Các điểm cần chú ý là: thứ nhất, ước muốn về tương lai của học sinh là gì và thứ hai, chọn lựa ngoại ngữ của học sinh có phục vụ cho ước muốn, mục tiêu đó không.

Như vậy, với một đề thi được ra, điều mà các thầy cô cần ở một học sinh, và qua đó mà đánh giá trình độ học sinh, là tầm nhìn, hoài bão của học sinh và cách suy nghĩ, cách lập luận, cách trình bày của học sinh. Không hề có định hướng chọn tiếng Anh hay tiếng Pháp. Năm học đó, những bài luận văn được điểm cao có những bài chọn tiếng Anh và cũng có những bài chọn tiếng Pháp.

Trong những năm trung học sau đó, khi làm văn nghị luận, chúng tôi có thể gặp những đề bài như: “Giàu có và hạnh phúc, bạn chọn điều nào? Hãy giải thích sự chọn lựa của bạn”, “Tính trung thực là sợi dây căn bản kết nối các thành viên trong xã hội. Bạn hãy bình luận quan điểm nói trên”, hay “Các giá trị tự do và bình đẳng có ảnh hưởng gì tới lòng yêu tổ quốc?”.

Những đề bài như thế cho học sinh chúng tôi nhiều cơ hội tổng hợp kiến thức của mình. Các bài đưa ra kiến giải độc đáo nhất được chấm điểm cao nhất. Học sinh tự do triển khai ý tứ, quan điểm sống, văn tài. Thầy cô toàn quyền đánh giá và chấm điểm.

Sau này, chúng tôi mới hiểu một nền giáo dục như thế là có tính khai phóng. Học sinh đua nhau đọc sách, phát triển kiến thức, suy luận... tạo nên nền tảng tri thức và đạo đức cá nhân vững chắc. Thầy cô cũng vậy, đọc nhiều để có kiến thức tổng hợp vững chắc truyền thụ, gợi mở cho học sinh. Cả một xã hội giáo dục nở rộ tinh thần cộng tác phát triển tri thức!

Tôi nghĩ, sự giàu mạnh và ấm no của một đất nước tỷ lệ thuận với mặt bằng dân trí về các kiến thức nói trên. Mặt bằng này càng cao, đất nước càng giàu mạnh và ấm no. Trong khi đồng ý với quan sát rằng một thành phần không nhỏ trong dân chúng tại Việt Nam hiện nay không quan tâm tới các kiến thức đó thì tôi tin tưởng rằng nếu có quyết tâm và có lộ trình thích hợp, Việt Nam sẽ xây dựng được xã hội phát triển trên nền tảng tri thức, lôi cuốn ngày càng nhiều người tham gia.

Đây là trách nhiệm lớn và trách nhiệm chính của chính quyền với nhân dân. Một chính quyền biết đau vì đất nước tụt hậu và nghèo đói, vì quốc gia yếu ớt trước các đe dọa đối với chủ quyền tổ quốc, vì những vùng lãnh thổ bị ngang nhiên chiếm đóng bởi ngoại bang. Một chính quyền có kiến thức và hiểu biết về nền chính trị các nước trên thế giới, về cách tổ chức, quản trị xã hội, kinh tế, một chính quyền có tinh thần trách nhiệm và siêng năng... Một chính quyền như thế, tôi tin sẽ có năng lực nhanh chóng cải tạo môi trường sống, học tập và làm việc của đất nước theo hướng người dân tiệm cận những kiến thức nói trên của nền văn minh thời đại. Một chính quyền như thế sẽ lãnh đạo thành công sự nghiệp chấn hưng tổ quốc, phát triển dân tộc.

Tôi rất tin rằng được tổ chức đúng và lãnh đạo có hiệu quả, mỗi năm năm nhìn lại dân tộc Việt Nam sẽ thấy mình đã bước những bước phát triển dài. Ba, bốn lần năm năm, triển vọng hóa rồng không là giấc mơ xa vời! 

Nguồn: www.thesaigontimes.vn