Ngành xi măng tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất để cạnh tranh

(TBTCO) - Giá điện, than và nguyên liệu đầu vào không ngừng tăng, cùng với thị trường trong nước nguồn “cung” đang lớn hơn “cầu”, điều này bắt buộc các doanh nghiệp (DN) xi măng phải tìm cách tiết kiệm tối đa chi phí, đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh.
xi măng
Ngành xi măng đang tích cực đổi mới công nghệ, quản trị để tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Ảnh: TL.

Phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Hoàn Cầu, Tổng Thư ký Hiệp hội xi măng Việt Nam về chủ đề trên.

PV: Giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất xi măng như điện, than không ngừng tăng. Vậy thưa ông, các DN trong ngành xi măng đã làm gì để tiết kiệm tối đa chi phí năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đảm bảo sức cạnh tranh?

TS. Nguyễn Hoàn Cầu: Đứng trước khó khăn về giá điện, than, cũng như các chi phí đầu vào khác tăng cao, ngành xi măng đã phải tự mình vươn lên để vượt qua khó khăn, đảm bảo sản xuất và kinh doanh. Trong đó, đề ra những giải pháp khắc phục tình trạng chi phí năng lượng điện, than tăng cao, như sử dụng năng lượng thay thế cho năng lượng hóa thạch. Nhiều DN sản xuất xi măng đã sử dụng các chất thải từ ngành nông nghiệp cũng như công nghiệp để làm nhiên liệu thay thế cho một phần than. Tỷ lệ nhiên liệu thay thế hiện nay có thể thay thế khoảng 5% lượng than sử dụng trong toàn ngành.

Cùng với đó, nâng cấp công nghệ và thiết bị sản xuất, đến nay các dây chuyền sản xuất xi măng của Việt Nam đều sử dụng công nghệ tiên tiến lò quay, tháp trao đổi nhiệt và lò tiền nung để đảm bảo giảm tiêu hao nhiệt xuống dưới 800 kcal/kg clinker. Các dây chuyền sản xuất xi măng phương pháp ướt và các dây chuyền lò đứng đã hoàn toàn bị đào thải.

Trong khâu nghiền nguyên liệu và xi măng, các dây chuyền nghiền được đầu tư các thiết bị nghiền tiên tiến như máy nghiền đứng, máy nghiền con lăn, hệ thống nghiền chu trình kín để đảm bảo tiết kiệm năng lượng. Các động cơ điện công suất lớn của hệ thống lò quay, nghiền và quạt gió đều có trang bị bộ biến tần cho động cơ, giảm đáng kể tiêu hao năng lượng. Việc sử dụng các vật liệu phế thải để làm phụ gia và thay thế một phần nguyên liệu trong sản xuất xi măng, vừa tiết kiệm nguyên liệu, vừa giảm thải, bảo vệ môi trường như sử dụng xỉ hạt lò cao, tro bay, đá xít, bã thạch cao.

 

ông cầu 

TS. Nguyễn Hoàn Cầu

Hiện nay toàn quốc có 10 dây chuyền sản xuất xi măng đã đầu tư xây dựng trạm phát điện tận dụng nhiệt khí thải. Lượng điện do sử dụng nhiệt khí thải để phát điện có thể cung cấp đến 30% lượng điện sử dụng của toàn nhà máy. Đồng thời, các DN cũng cải tiến quản lý sản xuất, nhằm đảm bảo sản xuất và kinh doanh hiệu quả.

PV: Xin ông cho biết, trong những năm gần đây, ngành xi măng Việt Nam đã có những bước tiến ra sao so với các nước trong khu vực, đặc biệt là thị trường xuất khẩu sản phẩm xi măng?

TS. Nguyễn Hoàn Cầu: Có thể nói rằng, ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hiện nay đang phát triển và lớn mạnh nhanh chóng cả về công nghệ và năng lực sản xuất, đáp ứng được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. 

Hiện nay năng lực sản xuất xi măng của Việt Nam khoảng 100 triệu tấn/năm, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước hàng năm khoảng 65-70 triệu tấn, và xuất khẩu trên 20 triệu tấn xi măng và clinker. Nhìn chung từ năm 2014 trở lại đây, xuất khẩu xi măng và clinker của Việt Nam luôn nằm trong top 5 các nước xuất khẩu xi măng. Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu khoảng 21, 2 triệu tấn xi măng và clinker, đứng đầu thế giới.

Năng lực sản xuất xi măng của Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trong top 5 của thế giới, với công nghệ đầu tư cũng tương đối hiện đại và đồng bộ. Hiện Việt Nam xuất khẩu xi măng sang một số nước trong khu vực như Philippin, Bangladesh, Trung Quốc, Đài Loan, Campuchia, Malaysia và nhiều nước khác trên thế giới. Việt Nam và Indonesia có năng lực sản xuất cao nhất khu vực Đông Nam Á (khoảng 100 triệu tấn/năm), cao hơn nhiều so với các nước còn lại trong khu vực.

PV: Có ý kiến cho rằng, thị trường xi măng Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt, do nguồn “cung” đang lớn hơn “cầu”, vậy ngành xi măng cần có chiến lược thế nào để giải bài toán trên, thưa ông?

TS. Nguyễn Hoàn Cầu: Nếu nói ngắn gọn thì “cạnh tranh trong ngành xi măng gay gắt do nguồn cung đang lớn hơn cầu” chỉ là tương đối. Trước đây, hơn một năm thì tình trạng này là đúng vì nhu cầu tiêu thụ xi măng trên thế giới không cao, hơn nữa sản lượng xi măng của Trung Quốc quá lớn (3,2 tỷ tấn/năm) thừa cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên từ giữa năm 2017 đến nay, Trung Quốc đang có những chính sách hạn chế sản xuất xi măng nên Trung Quốc thiếu xi măng tiêu thụ trong nước. Họ không những không xuất khẩu mà còn phải đi mua xi măng về để đảm bảo nhu cầu trong nước.

Nhưng tại sao vẫn có sự cạnh tranh trong khâu tiêu thụ xi măng tại Việt Nam? Với năng lực sản xuất 100 triệu tấn xi măng/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước chỉ khoảng 65 triệu tấn/năm, thì lượng xi măng cần xuất khẩu khoảng 25 triệu tấn/năm (với khả năng huy động công suất khoảng 90%).

Tuy nhiên, việc xuất khẩu khó khăn do phải cạnh tranh với nhiều nguồn xuất khẩu từ các nước khác và do chính sách về thuế xuất khẩu, thuế VAT đối với clinker và xi măng làm giảm sức cạnh tranh của xi măng Việt Nam trên thị trường quốc tế, mặc dầu xuất khẩu xi măng cũng là mục tiêu chiến lược của nhà nước và ngành công nghiệp xi măng Việt Nam. Tại Quyết định số 1469/QĐ-TTg ngày 22/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định lượng xuất khẩu xi măng khoảng 20-30% so với tổng công suất thiết kế. Như vậy cần đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa mới đáp ứng được quy định trong Quyết định trên.

Để giải quyết sự cạnh tranh trong khâu tiêu thụ xi măng cần có sự thống nhất đồng bộ giữa DN và nhà nước. Trước hết, DN cần đầu tư quản lý, cải tiến và nâng cấp công nghệ, tận dụng tài nguyên thiên nhiên… để giảm giá thành sản xuất, đảm bảo lợi nhuận trong khâu xuất khẩu.

Nhà nước cần có sự nghiên cứu đảm bảo lợi ích nhà nước và DN, cần nghiên cứu sửa đổi luật thuế xuất khẩu, đảm bảo công bằng, khoa học và bình đẳng.

Cần tạm hoãn hoặc giãn tiến độ đầu tư xây dựng các dự án xi măng mới trong giai đoạn hiện nay đảm bảo cân đối giữa cung và cầu, cho đến khi nào nhu cầu tiêu thụ trong nước tăng lên, đảm bảo tiêu thụ phần lớn lượng xi năng sản xuất ra. Theo dự báo, mỗi năm nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng khoảng 5%.

PV: Xin cảm ơn ông!

Đức Việt (thực hiện)
Nguồn: thoibaotaichinhvietnam.vn